Hotline: 0984 843 238
0936 148 339
 
Hỗ trợ tim mạch
 
Hỗ trợ tiêu hóa
 
Hỗ
trợ xương khớp
 
Phục hồi sinh lý
 
Phục hồi sức khỏe
 
Tăng & Giảm cân
 
Chỉ khi có thể chất khỏe mạnh, cuộc đời bạn mới thật Hoàn Mỹ !!!
Tư vấn khách hàng: 04 6283 3388 - 09 8484 3238 - Email: thegioihoanmy99@gmail.com
Giỏ hàng - 0 đ
CALCI và Khoáng chất !

· Calci là gì ? · Vai trò của calci ? · Thức ăn nào cung cấp calci ? · Nhu cầu hàng ngày về calci là bao nhiêu ? · Những ai dễ bị thiếu calci ? · Trường hợp nào nên dùng calci? · Dùng calci thường xuyên hay dùng liều cao hơn khuyếncáo của bác sĩ có nguy hiểm không? · Dự phòng thế nào?

Calci là gì?

            Calci là yếu tố quan trọng của xương và răng, đồng thờigiữ nhiệm vụ hoạt hóa nhiều phản ứng sinh hóa cho phép co cơ và đông máu.

            Calci là muối khoáng mà cơ thể con người có nhiều nhất. Ởngười lớn nó chứa từ 1000 đến 1500g tùy theo trọng lượng, trong đó 98% đến 99%có trong xương cũng có ở trong xương và răng. Do đó nó thiết lập nên 1,6% trọnglượng toàn bộ cơ thể. Khi 1% calci không có trong xương cũng gây nguy cơ nghiêmtrọng. Nó được phân bố giữa ngoại bào và nội bào.

 

Vai trò của calci ?

 

Calci đóng nhiều vai trò sinh lý Xây dựng nên xương và răng, đồng thời kết hợp với phospho, magesi để bảo đàm choquá trình phát triển xương và răng.

 

Chịu áp lực cho cơ thể khi đứng và thực hiện các cử động thêm một vài điểm của xương.

 

            Mặc dù xương được hình thành từ quá trình tích tụ, cáctinh thể rắn chắc, nhưng nó vẫn bị vỡ ra rất nhanh. Khi không chịu trước lựctác dụng. Điều này xảy ra dễ dàng với các điểm chịu lực, còn được gọi là “gãy nơi xương bị yếu”.

            Từ những tế bào nhỏ, có tế bào hủy xương làm xương tan rakhông ngừng cùng một số tế bào xây dựng lại xương, giúp xương luôn được đổi mớiđồng thời ngăn ngừa gãy xương bị yếu.

            Ngoài ra, calci thiết lập nên chất liệu chính của cáctinh thể này cùng với những yếu tố cần thiết khác :

VitaminD giúp hấp thu tốt và cố định calci trên lưới xương. Phospho và magesi tiếp tụcđược đưa vào với calci.

 

Magesicũng cho thấy sự cần thiết cho đặc tính phân bố tốt của calci. Thực vậy, giốngvới kali hay natri, magesi tham gia vào hoạt động kiểm soát của quá trình phânchia trong mô. Nếu thiếu magesi, calci có thể đi vào một lượng lớn trong tế bàocủa mô mềm và tạo calci hóa ở đó, thay vì phải đến cố định ở xương. Đó là  một trong những tác nhân dẫn đến sỏi thận,viêm quanh khớp vai, calci hóa động mạch.

 

Kẽm,vitamin B6, và vitamin cũng tham dự vào quá trình khoáng hóa xương.

 

Nhữngtác nhân hormon cũng đóng một vai trò quan trọng. Estrogen, hormon giới tínhchủ yếu ở nữ, góp phần tạo thuận lợi cho quá trình khoáng hóa xương. Thực vậy,khi mãn kinh, lượng estrogen giảm khiến cho hiện tượng mất khoáng hóa tăngnhanh. Trên thực tế, ngay từ tuổi 20, điều này nói lên giá trị của phương phápđiều trị hormon thay thế khi mãn kinh.

 

Tuy nhiên, phương pháp điềutrị này có những chống chỉ định, và câu hỏi : liệu phương pháp điều trị hormonthay thế sau khi mãn kinh ? vẫn còn được bàn cãi. Dường như tính hiệu quả củanó bị giới hạn khi calci cùng các dinh dưỡng cần thiết khác dùng cho khoáng hóaxương không được đưa vào đủ số lượng. Điều này thường xảy ra, và dễ gặp ở xươngtrừ xương sống (ít nhạy cảm với estrogen).

 

            Nói một cách khác, calci và các chất phụ giúp nó cho phépgiảm tần suất gãy cổ xương đùi hay xương cổ tay.

 

            Estrogen không phải là nguyên nhân duy nhất khi người tathiếu ít calci trong thực phẩm để bảo đảm các hoạt động khác ngoài quá trìnhkhoáng hóa xương. Vì khi đó, một tuyến nhỏ, tuyến cận giáp sẽ tiết raparathormon giúp huy động một lượng calci từ xương ra.

 

            Đó là lý do tại sao, lượng calci trong máu vẫn cốđịnh  và tình trạng thiếu calci vẫn âm ỉtừ nhiều năm trước khi bị loãng xương (giảm kích thích và đau ở chỗ xẹp đốtsống, gãy cổ xương đùi hay cổ tay).

 

            Những hormon khác đều giữ vai trò trong chuyển hóa calcivà chuyển hóa xương, tiêu biểu calcitomin và hormon tăng trưởng.

 

            Đặc biệt, chức năng lệ thuộc vào quá trình khoáng hóa màcalci can thiệp vào là:

            Sự co cơ và những co bóp của tim.

            Sự đông máu.

            Tháo bỏ acid béo của màng tế bào đểsản xuất ra các chất dẫn truyền trung gian của viên và dị ứng.

 

Sựcân bằng của quá trình phân bố calci bên trong tế bào, giữa các phần khác nhau(màng, ti lạp thể, nhân..) và sự nối liền của chúng hay không, với các proteinđiều hòa như calmodulin, xuất hiện càng ngày càng nhiều. Quá nhiều calci bêntrong tế bào có thể làm giảm năng lượng và đưa đến khởi động sự “tự sát” củachúng.

 

Thức ăn nào cung cấp calci ?

 

            Trên thực tế, nó rất thay đổi, calci được đưa vào cơ thểbởi sữa, và với một lượng ít hơn từ rau tươi.

            Loại cung cấp nhiều calci nhất là món pho mát parmesancủa Ý, rồi đến Gruyerè.

 

 

Các sản phẩm của sữa

           Nhận phần lớn calci từ sản phẩm của sữa có tốt không ?

            Câu hỏi càng ngày càng được bàn cãi bởi vì :

 Calci của fromage được đi kèm vớimột lượng lớn acid béo no đưa đến nhiều calo, làm tăng nguy cơ của các bệnh timmạch và một vài bệnh ung thư, hoặc calci tạo nên những phân tử giống xà phòngsẽ đưa đến một câu hỏi về sự hấp thu.

 

            Sữa sinh lý là sữa mẹ, sữa cho búthêm là sữa nhân tạo.

            Sữa có chứa nhiều thành phần về tếbào như protein, lipid, muối khoáng và vitmin đặc hiệu cho mỗi loài. Do đó, sữamẹ rất khác với sữa bò, sữa dê. Để phát triển cho em bé, cũng như sức khỏe của người lớn, sữa bò không phải là loại lý tưởng. Nó chứa những kháng thể không cóích cho người vả lại protein của sữa bò thường gây dị ứng hơn so với các thực phẩm khác, đồng thời chứa nhiều acid béo no, nhiều phospho và ít vitamin A hơnsữa mẹ.

            Nhu cầu tiêu thụ thường xuyên sản phẩm sữa đường như được đi kèm với tần số tăng cao bị đái tháo đường, xơ vữarải rác và đục thủy tinh thể.

 

            Vậy phải làm gì?

            Biện pháp đầu tiên : chúng ta thực hiện theo phần giớithiệu là ngoại trừ các trường hợp bị sỏi thận hay suy thận bằng cách là uốngnước khoáng giàu calci. Có hai lợi ích chính : không mang theo năng lượng vàmang vào cùng một lúc yếu tố bảo vệ đó là magesi.

           

            Biện pháp thứ hai : là dùng yaourt, 2 đến 3 hũ yaourttrong ngày (có thể cũng sử dụng yaourt để tráng miệng), bởi vì chúng khác vớicác loại sữa khác : sự lên men đã thay đổi thành phần và đưa đến những phân tửmới, tạo thuận lợi cho sức khỏe.

 

            Biện pháp thứ ba : là thay thế sữa bò, bằng sữa đậu nànhgiàu calci khi chế biến bột ngũ cốc, nước sốt, và chế biến các món ăn. Đậu phụđược chế từ sữa đậu nành có nhiều calci hơn sữa bò.

            Biện pháp thứ tư : là tiêu thụ thường xuyên những thức ănkhác giàu calci: hạnh đào ôliu, cá béo. Hàm lượng calci rất thay đổi trong rautươi trái cây tươi và khô chẳng hạn: lá rau cung cấp 80mg trên 100g, rễ của500mg, cà rốt 20mg, những rau khác khoảng 20mg. Đặc biệt cacao và chocolate cónhiều calci nhưng khó hấp thu vì sự hiện diện của oxalate.

 

Trái cây chứa ít calci :trái cây tươi từ 20 đến 60mg/100g, trái cây khô từ 100 và 170mg/100g do nó cóít nước.

 

Nguồn tự nhiên có chứa calci

Thực phẩm

mg/100g

 

Hạnh đào

Yaourt

Đậu phụ

Sữa đậu nành

Ô liu

 

234

130 đến 150

128

120 đến 150

106

 

            Trên thực tế, cần cung cấp hàng ngày từ 1g đến 1,5g calcicho cơ thể (dùng khoảng 500mg từ 1 lít nước khoáng, 0,5 lít sữa đậu nành, 100ghạnh đào, hai hũ yaourt).

 

Nhu cầu hàng ngày về calci là bao nhiêu ?

             

Lượng calci cung cấp được khuyên

Loại

mg/ngày

 

 

Trẻ còn bú

Trẻ từ 1 đến 3 tuổi

Trẻ từ 4 đến 9 tuổi

Trẻ 10 đến 12 tuổi

Thanh niên 13 đến 19 tuổi

Người lớn

Phụ nữ mãn kinh

Người già

 

 

400

600

700

1000

1200

900

1200 đến 1500

1200 đến 1500

 

Khi nào thì nhu cầu được tăng lên?

            Trong thời kỳ tăng trưởng (trẻ còn bú, trẻ em và thanhniên), có thai và cho con bú, ở người già và khi bị gãy xương.

 

Những ai dễ bị thiếu calci ?

            Thiếu calci thường gặp, ngay cả ở các nước phát triển.Nguyên nhân chủ yếu là cung cấp không đủ. Điều này sẽ nặng lên khi kém hấp thu,liên quan với thiếu vitamin D hay ngược lại dư thừa phospho hoặc acid béo no.Thêm vào đó là thiếu những vi dinh dưỡng khác, cần thiết cho sự phân bố đúngcalci trong cơ thể và đặc tính cố định của calci. Trên xương, ngoài những yếutố như: magesi, kẽm, vitamin C, B6 và K, còn có những yếu tố khác làm rối loạnchuyển hóa của calci; mãn kinh, tuổi tác, uống nhiều café, chế độ ăn nhiềumuối, bất động, tĩnh tại, dùng thuốc.

Những nhóm nguy cơ :

            Trẻ em, lúc đang phát triển

            Thanh niên

            Những người uống nhiều thức uống công nghiệp

            Phụ nữ

            Phụ nữ có thai

            Người uống nhiều café

            Người già

            Người dùng corticoid hay thuốc chống động kinh

 

Trường hợp nào nên dùng calci?

            Trẻ em cần được bổ sung vitamin D, vì người ta xác địnhrằng nếu không có sự bổ sung này trẻ sẽ bị còi xương. Nhưng người ta quên rằng: những yếu tố cần thiết khác trong quá trình khoáng hóa xương là calci, kẽm,và vitamin B6 thường không được cung cấp đủ bởi thức ăn. Do  đó cần phải bổ sung đầy đủ cho trẻ em. Phốihợp các yếu tố dinh dưỡng.

            Liều cao cho thanh niên, thời kỳ thiết lập khung xương.Từ 20 tuổi đến già giảm dần cho đàn ông và tăng lên ở thời kỳ mãn kinh cho phụnữ.

            Phần lớn các nghiên cứu cho thấy rằng, hơn 90% thanh niênkhông nhận đủ nhu cầu về calci. Do đó, ngay từ tuổi thanh niên đã có nguy cơloãng xương. Cũng như trong lúc có thai cũng cần 30g calci đi qua nhau thai đểtạo thành khung xương cho em bé. Nếu người mẹ thiếu calci, thì nhu cầu calcicần thiết để tạo xương cho thai được lấy từ xương của mẹ. Người mẹ sẽ càngthiếu calci khi cho con bú. Do đó, cần bổ sung một lượng calci đầy đủ và kịpthời cho phụ nữ khi mang thai.

            Đặc biệt, từ lúc mãn kinh, nhu cầu cung cấp calci phảiđược bổ sung kèm với các yếu tố khác. Cường độ bổ sung ở giai đoạn sớm phảiđược quyết định tùy theo sự hiện diện hay không của các yếu tố nguy cơ như:tiền sử gia đình, gầy yếu, mất kinh, mãn kinh sớm. Điều trị kéo dài với chốngđông, và chụp tỉ trọng xương được thực hiện vào lứa tuổi 40.

            Khi bị gãy xương, bất động, điều trị sẽ làm mất muốikhoáng kéo dài (corticoid, kháng vitamin K, thuốc chống động kinh). Khi đó,phải có những biện pháp bổ sung thực phẩm phù hợp và một chương trình tập luyệnbắt buộc. Chẳng hạn: những nhà du hành ở lâu trên vũ trụ phải thực hiện mỗingày 6h tập luyện. Ngày nay, thường gặp những tình trạng đưa đến mất xươngthông thường, ngay cả đối với các bác sĩ.

            Mới đây, người ta đã nhận thấy rằng, khi làm gầy đi bởichế độ ăn kiêng, sẽ mất khối cơ và mô xương.

Xuhướng tăng cân thường do yếu tố di truyền, đòi hỏi có thái độ ăn uống hợp lýcũng như môt chế độ tập luyện trong cuộc sống. Do đó, trong tất cả mọi trườnghợp, một chế độ ăn phải tối thiểu được đi kèm với nhu cầu bổ sung thêm calci,cùng một chế độ tập luyện hàng ngày.

 

Hoạtđộng kéo dài của hệ thống miễn dịch khi bị nhiễm khuẩn, viêm, bệnh tự miễn, ungthư sẽ có tác dụng âm tính trên mô xương. Bạch cầu tiết ra những chất như interteukine-1 TNK có tác dụng làm gầy và cũng làm mất xương. Hiện tượng này, diễn ra rõ hơnở người già.

 

Nói một cách khác, khi bịnhiễm trùng trầm trọng hay một trong những bệnh trên đây, phải có những biệnpháp về thực phẩm, bổ sung và các hoạt động thể lực đặc biệt để chống lại nguycơ mất muối khoáng.

 

Dùng calci thường xuyên hay dùng liều cao hơn khuyếncáo của bác sĩ có nguy hiểm không?

            Lượng calci thừa ít được hấp thu, nếu được hấp thu và sẽbị thải ra ngoài cùng nước tiểu. Điều này có thể bất lợi cho người bị sỏi thận.

            Nếu cung cấp magesi vào không đủ, đặc biệt là lúc bịstress sẽ dẫn đến nguy cơ phân bố calci không đúng, khiến calci đi vào tế bàocủa các mô khác nhiều hơn đi vào mô xương. Hậu quả có thể là rất nhiều : tăngtính kích thích với stress được gọi là ưa co thắt hoặc tăng nhanh quá trình lão hóa cùng với lắng đọng calcitrong mô mềm gây sỏi thận, viêm quanh khớp vai, calci hóa động mạch và não.Hiện tượng này xảy ra từ từ với người già.

            Lượng calci quá nhiều được thải ra từ xương do quá trìnhdị hóa cao hơn quá trình đồng hóa trong trường hợp bất động, tăng hoạt tuyếngiáp, hoặc lớn tuổi. Hậu quả này, thường là kết quả của sự kết hợp hai hiệntượng thiếu magesi và dị hóa xương tăng lên hoặc quá liều vitamin D, và một bệnhtương đối phổ biến như sarcoiddose, cũng có thể đi kèm với rối loạn chuyển hóacalci.

            Một thăm dò về calci bao gồm : định lượng calci, ion hóathay đổi dễ dàng hơn calci máu, sự bài tiết nước tiểu của calci trên 24 giờ, vàtỉ trọng của xương.

 

Dự phòng thế nào ?

            Calci được hấp thu ở hành tá tràng. Do đó, phải tạo điềukiện thuận lợi cho calci từ thức ăn đưa vào được hấp thu dễ dàng đồng thời phảihạn chế tối đa những điều kiện bất lợi.

            Điều quan trọng là phải tránh dư thừa phospho, vì chấtnày lắng đọng với calci tạo thành muối không hòa tan. Thực phẩm có xu hướngcung cấp nhiều phospho, đặc biệt phải tránh tiêu thụ thức uống công nghiệp cóthêm vào phospho. Một nghiên cứu chỉ ra rằng tiêu thụ quá nhiều soda sẽ có tầnsố gãy xương gia tăng.

            Tương tự, thực phẩm thông thường có chứa nhiều acid béono sẽ tạo nên xà phòng không tan với calci. Dùng thường xuyên cá béo, giàu acidbéo omega-3 làm giảm tiết interteukin-1, tác nhân gây mất muối khoáng. Chế độăn giàu chất xơ, đặc biệt là phytate có trong bánh mì toàn phần, hạt bắp sẽ tạotác dụng âm tính lên quá trình hấp thu calci. Do đó tốt nhất phải chọn phytateđược trung hòa.

            Thực phẩm chứa nhiều oxalate gây ức chế quá trình hấp thucalci, nhưng điều này chỉ xảy ra khi các oxalate đến cùng với calci từ thựcphẩm cacao, chocolate.

            Về mặt dương tính đó là vitamin D, được tìm thấy trong cábiển béo và gan cá.

            Lượng cung cấp từ thực phẩm phải được bổ sung theo nhucầu và hoạt động tiếp xúc mặt trời. Nên cung cấp vừa phải để tránh các tác dụngnguy hiểm như tăng nguy cơ bị ung thư da. Ngay cả ở trẻ em, những biện pháp bảovệ rất cần thiết: ví dụ, mùa hè ở bãi biển hoặc bể tắm nên mặc áo dài tay.

            Cố định calci được thực hiện trên một lưới xương đượcthiết lập của protein cùng với sự can thiệp của vitamin D. Chúng ta đã thấyrằng oessofen góp phần vào đó. Nhiều yếu tố tham dự vào quá trình phân bốxương, và thiết lập lưới xương, mà trên đó calci được cố định, sự cố định dựavào :magesi, kẽm, B6 và vitamin C. Muối khoáng, chất béo, và các nguồn calcithực vật cũng tạo điều kiện thuận lợi cho cung cấp magesi. Ngược lại, các sảnphẩm của sữa có xu hướng ức chế quá trình hấp thu magesi, B6 và kẽm.

            Nhu cầu tiêu thụ quá nhiều café hay muối khoáng làm tănglượng calci mất qua nước tiểu. Tốt hơn nên uống trà.

            Bài tập thể dục đóng vai trò chủ đạo. Người ta biết rằng,những người liệt giường hay những nhà du hành vũ trụ dễ bị mất chất khoáng củaxương, vì những áp lực được thực hiện trên các tinh thể tạo mô xương là cầnthiết để duy trì tỉ trọng của nó.

            Một hoạt động thể lực đều đặn, đặc biệt là tập thể dục,bơi lội, đi xe đạp, trượt tuyết, là phương tiện chính để phòng ngừa loãngxương.

 

BS.PHÙNG HOÀNG ĐẠO (Theo Encyclopédie Médicale)

Related Posts

Bình luận

Bình luận